Thế Giới Luật SưThế Giới Luật SưThế Giới Luật Sư
1900.0197
lienhe@thegioiluatsu.vn
Yên Hòa, Cầu Giấy

Nghề luật sư ở Việt Nam: Khó thành khó hành

Tổ chức hành nghề luật sư

Luật sư là một nghề rất mới ở Việt Nam. Không phải trong những năm gần đây khi nước ta bước vào thời kỳ hội nhập và đổi mới, Đảng và Nhà nước ta mới quan tâm, phát triển nghề luật sư mà đã từ rất lâu Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao vai trò, vị trí của nghề luật sư trong xã hội. Hơn một tháng sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 69/SL thành lập các Luật sư đoàn ở Việt Nam. Mặc dù trong bối cảnh chiến tranh liên miên chống xâm lược nhưng nghề luật sư vẫn từng bước phát triển cả về lượng và chất. Nếu như những ngày đầu nghề luật sư ra đời, những người hành nghề về cơ bản chỉ là người Pháp và một số rất ít người Việt Nam do Pháp đào tạo thì nay số lượng người Việt Nam hành nghề luật sư đã lên tới hơn 9.000 người. Ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước đều có Đoàn luật sư , tổ chức xã hội – nghề nghiệp được đánh giá ngang với các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, chính trị – xã hội khác. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số lượng không nhỏ luật sư nước ngoài đang hành nghề. Từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến nay, Nhà nước ta đã ban hành tới bốn đạo luật quy định về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong đó có hai pháp lệnh (1987, 2001) và hai luật (2006, 2012) tạo ra một hành lang pháp lý rất rộng và thông thoáng cho luật sư hành nghề. Tuy nhiên, công bằng mà nói thì nghề luật sư ở Việt Nam vẫn là một nghề dễ thành nhưng khó hành.

Nghề luật sư ở Việt Nam: Khó thành khó hành

PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải

Theo quy định của luật hiện hành, một công dân Việt Nam không khó để trở thành luật sư và lập riêng cho mình một công ty hoặc văn phòng luật sư. Học sinh sau khi tốt nghiệp PTTH thi vào Đại học luật để trở thành cử nhân luật sau bốn năm học tập (trong khi đó ở một số nước khác, người muốn thi vào Đại học luật phải có một bằng đại học hoặc một bằng cao đẳng khác). Một người khi có bằng cử nhân luật thi đỗ đầu vào Khoa luật sư của Học viện tư pháp thì phải học một năm. Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo luật sư thì phải đăng ký tập sự tại một văn phòng/công ty luật trong một năm. Kết thúc thời gian tập sự, người tập sự tham gia kỳ thi để trở thành luật sư do Liên đoàn luật sư tổ chức. ở Việt Nam, trong các kỳ thi hết tập sự có tới 90-95% người tập sự đỗ trong khi ở Nhật Bản số lượng này chỉ đạt từ 5-7%.

Các bước để trở thành luật sư
Các bước để trở thành luật sư ở Việt Nam

Sau khi vượt qua kỳ thi này, người tập sự chính thức trở thành luật sư, được Bộ tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề, Liên đoàn luật sư cấp thẻ luật sư và sau đó đăng ký hoạt động tại các đoàn luật sư. Luật sư có thể hành nghề dưới nhiều hình thức như làm theo hợp đồng cho một văn phòng/công ty luật, hành nghề dưới tư cách cá nhân hoặc mở văn phòng/công ty luật riêng của mình. Như vậy, tính tổng tất cả thời gian, có người chỉ đến 24 tuổi đã trở thành luật sư và quản lý, lãnh đạo một văn phòng/công ty luật. Có thể nói điều kiện trở thành luật sư ở nước ta quá dễ dàng trong khi đó hành nghề luật sư lại rất khó. Một người tốt nghiệp Đại học Y hoặc thậm chí trung cấp chỉ cần tiêm một mũi tiêm đã có thể kiếm được tiền để sinh sống; một người tốt nghiệp Đại học Dược bán một viên thuốc đã có thể có lợi nhuận để sống bằng nghề trong khi đó một luật sư mới vào nghề thậm chí còn không viết nổi một lá đơn cho khách hàng. Khi tư vấn hoặc tranh tụng có khi lại gây thiệt hại cho khách hàng. Nếu bị họ kiện đòi bồi thường thì thậm chí không có đủ tiền để bồi thường. Ở một số quốc gia văn minh, nghề luật sư được xếp vào một trong những nghề được trân trọng nhất xếp theo thứ tự thầy giáo, bác sĩ, luật sư. Ở Việt Nam có một thời kỳ xã hội chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của luật sư, chưa coi trọng nghề luật sư. Nhiều người, nhiều nơi, nhiều lúc người ta còn gọi luật sư là con này, thằng kia. Rồi cả một số cơ quan, cán bộ Nhà nước mặc dù đã có luật quy định nhưng cũng không tôn trọng luật và ngăn cản, gây khó khăn cho hoạt động của luật sư. Ví dụ, luật sư Võ An Đôn ở Tuy Hòa sau khi bảo vệ cho 5 bị hại bị Công an Phú Yên dùng nhục hình bức cung bị ba cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh này đề nghị Liên đoàn luật sư Việt Nam khai trừ. Vụ án Vườn điều trong Bình Thuận sau khi ba luật sư bào chữa cho các bị cáo chỉ ra các sai sót của các cơ quan tiến hành tố tụng và là căn cứ để Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đình chỉ vụ án thì ba cơ quan THTT yêu cầu Bộ công an khởi tố ba luật sư vì cho rằng ba luật sư đã nói xấu cơ quan nhà nước (?).

Luật sư hợp đồng

Khi hành nghề luật sư ở Việt Nam, luật sư phải chịu rất nhiều áp lực: đối tác của khách hàng thậm chí chính khách hàng. Có vụ án bênh vực nguyên đơn nên bị bị đơn dùng guốc bổ vào đầu ngay tại phòng xử án; có những vụ án sau khi thắng kiện, luật sư bị đối tác của khách, thậm chí chính đồng nghiệp của mình vu khống sử dụng các biện pháp phi pháp để thắng kiện. Cũng không ít trường hợp sau khi kết thúc hợp đồng dịch vụ pháp lý, khách hàng tố cáo luật sư đã không làm việc hết mình khi họ không đạt được yêu cầu. Còn có trường hợp họ đòi tiền lại vì cho rằng luật sư không xứng đáng được nhận số tiền trước đây họ đã nộp. Như vậy, rõ ràng để thỏa mãn hoặc hài lòng các đối tượng trong xã hội, ngoài tri thức, am hiểu pháp luật, kinh nghiệm cuộc sống, luật sư rất cần có kĩ năng hành nghề trong khi đó những yếu tố nêu trên không thể trong ngày một ngày hai mà luật sư có thể có được. Đối với luật sư, quá trình hành nghề cũng chính là quá trình học tập để tích lũy kinh nghiệm và kĩ năng. Ở Đoàn luật sư TP. Hà Nội, có một luật sư chỉ vì bức xúc khi tranh luận trong một vụ án hình sự mà đột quỵ chết ngay tại trụ sở tòa án.

Cho tới nay, mặc dù số lượng luật sư tương đối đông và với xu thế hội nhập giữa nước ta và các nước trong khu vực và trên thế giới, thị trường dịch vụ pháp lý ở nước ta ngày càng mở rộng và phức tạp hơn. Có thể có những luật sư không có đủ thời gian và sức khỏe để thực hiện công việc của mình trong khi có nhiều luật sư thừa thời gian nhưng việc lại ít. Tuy nhiên, xã hội vẫn chưa có sự phân loại luật sư cao cấp, trung cấp và sơ cấp như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán nên có những luật sư mới ra nghề, những văn phòng/công ty luật mới thành lập cũng xử lý các vụ việc phức tạp như các luật sư có kinh nghiệm hay các văn phòng/công ty luật có thương hiệu.

Thời gian vừa qua có không ít lần do kinh nghiệm hành nghề và kiến thức pháp luật quốc tế còn hạn chế nên một phần thị trường dịch vụ pháp lý đã bị các công ty luật và luật sư nước ngoài chiếm mất. Một luật sư, một văn phòng/công ty luật chỉ có thương hiệu khi và chỉ khi họ là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân tức là giúp cho Nhà nước hoạch định chính sách và giúp cho nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách có hiệu quả. Gần đây, một số đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước khi làm việc với Liên đoàn luật sư Việt Nam đều nói tới chức năng giám sát xã hội và phản biện xã hội của luật sư nhưng ngay bản thân nhiều luật sư đang hành nghề cũng chưa hiểu hết được giám sát xã hội và phản biện xã hội là cái gì. Do đào tạo trong nước là chính nên tới 90% luật sư không giao dịch được với khách hàng bằng ngoại ngữ. Điều này gây khó khăn cho luật sư Việt Nam phát triển thương hiệu ra các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nội dung được chia sẻ bởi: PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải – Trưởng VPLS Phạm Hồng Hải và Cộng sự

Leave A Comment

Subscribe to our newsletter

Sign up to receive latest news, updates, promotions, and special offers delivered directly to your inbox.
No, thanks